20/02/2026 16:58:16

Tình hình biến động giá tiêu dùng tháng 01 năm 2026

Tình hình biến động giá tiêu dùng tháng 02 năm 2026

Trong tháng là thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên tình hình sản xuất, kinh doanh của các ngành tiếp tục được duy trì sản xuất ổn định và có xu hướng tăng mạnh vào những ngày giáp Tết. Tình hình giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, lượng dự trữ hàng hàng hóa tăng 20-50% so với lượng hàng đã đăng ký, không xảy ra tình trạng thiếu hàng, sốt giá; các doanh nghiệp, siêu thị, cửa hàng tiện lợi thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi như tặng quà, giảm giá,…nhằm kích cầu tiêu dùng. Tại các chợ truyền thống đảm bảo cung ứng đầy đủ hàng hóa phục vụ tiêu dùng của người dân. Bên cạnh đó, do tình hình đời sống của người dân ngày càng được nâng cao nên xu hướng tiêu dùng của người dân có sự dịch chuyển từ các chợ truyền thống sang các cửa hàng, siêu thị do mặt hàng đa dạng, chất lượng tốt, giá cả ổn định, có nhiều sự lựa chọn. Đối với hệ thống siêu thị Bách Hóa Xanh trên địa bàn đã có sự chuẩn bị chu đáo về nguồn hàng cũng như đưa ra nhiều chương trình kích cầu tiêu dùng, bình ổn giá nhằm thu hút nhu cầu tiêu dùng của người dân. Ngoài ra, tại các chợ thương mại điện tử ngày càng là kênh phân phối giữ vai trò quan trọng trong việc mua sắm của người tiêu dùng do sự đa dạng về sản phẩm, có sự cạnh tranh và so sánh giá giữa các đơn vị bán hàng và sự tiện lợi trong quá trình mua sắm và vận chuyển.

Do dịp Tết năm nay rơi vào những ngày giữa tháng 02 do đó công tác chuẩn bị dự trữ các mặt hàng bán Tết đã được thực hiện từ cuối tháng 01 năm 2026. Lượng hàng hóa phục vụ Tết Nguyên đán rất đa dạng và dồi dào; giá cả các mặt hàng thiết yếu như: gạo, thịt heo, thịt gà, trứng gia cầm, thủy sản, rau củ quả, các mặt hàng nước tương, nước mắm, bánh, mứt, kẹo, đường, dầu ăn,…vào những ngày cận Tết dao động theo xu hướng tăng do sức mua cao hơn các ngày bình thường nhưng không gây đột biến, nguồn cung về chợ dồi dào, giá cả năm nay chỉ tăng nhẹ so với Tết năm trước do ảnh hưởng của chi phí đầu vào tăng.

Tính chung chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02 năm 2026 tăng 1,29% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,3%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 1,66%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,8%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,65%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,12%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,91%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,62%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,91%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,71%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 1,46%; Thông tin và truyền thông tăng 0,05%;  Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,32%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,34%. Còn lại nhóm Giáo dục giá ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá CPI tháng 02 năm 2026 trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng mạnh, nguyên nhân chủ yếu là do:

- Các mặt hàng gạo, nếp, bún tươi, hủ tiếu sợi khô, miến, mì, phở giá tăng nhẹ phổ biến từ 1-3% so với tháng trước tác động cho chỉ số giá nhóm lương thực tăng 1,65% so với tháng trước; đóng góp vào CPI chung tăng khoảng 0,1%;

- Các mặt thực phẩm tươi sống như: thịt heo, thịt gà, thịt chế biến, trứng gia cầm các loại, thủy hải sản giá tăng phổ biến từ 3-12% so với tháng trước; do ảnh hưởng dịch bệnh trên gia súc, gia cầm làm cho nguồn cung tại địa phương giảm, giá bán sản phẩm thịt hơi tăng mạnh, đặc biệt là heo hơi; nhu cầu tiêu dùng và chế biến phục vụ thị trường Tết tăng nhanh, chi phí nhân công, chi phí đầu vào sản xuất tăng kéo theo giá bán nhà cung cấp vào dịp Tết tăng tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,62% so với tháng trước; đóng góp vào CPI tăng chung 0,64%;

- Các mặt hàng trái cây tươi có xu hướng tăng giá phổ biến từ 2-5% so với tháng trước; nguyên nhân giá bán tăng là do phần lớn các loại cây ăn trái đã kết thúc vụ thu hoạch nguồn cung giảm, nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu dịp cuối năm đang có xu hướng tăng, một số loại trái cây tăng mạnh do thị hiếu của người tiêu dùng trong dịp Tết tăng, giá bán hàng nông sản của người cung cấp tăng; đóng góp vào CPI tăng chung 0,05%;

- Các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình như: phở, cơm; bún, xôi, suất ăn tự chọn, nước uống các loại…giá tăng phổ biến từ 1-3% so với tháng trước; đóng góp vào CPI tăng chung 0,06%;

- Các mặt hàng thực phẩm công nghiệp: bia lon, bia chai, nước giải khát các loại, trà, cà phê, bánh, mứt các loại, thuốc lào,… có giá bán tăng do nhu cầu dịp Tết Nguyên đán tăng cao; hàng hóa nhập vào tăng giá tác động làm cho giá cả có xu hướng tăng nhẹ từ 1-3% so với tháng trước;

- Các mặt hàng vải, quần, áo may sẵn, dịch vụ may giá tăng nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân do nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao vào dịp Tết, giá bình ổn khá lâu; hàng hoá nhập vào tăng; chi phí thuê mướn nhân công tăng,…góp phần làm cho giá cả quần áo may sẵn tăng phổ biến từ 1-3%; dịch vụ cắt may giá tăng từ 2-3% so với tháng trước;

- Các mặt hàng vật liệu xây dựng như: cát, đá, xi măng giá tăng phổ biến từ 1-2% so với tháng trước do nhu cầu xăng dựng vào dịp cuối năm tăng cao, mùa khô thuận lợi cho hoạt động xây dựng;

- Nhu cầu thẩm mỹ, làm đẹp vào dịp Tết của người dân tăng cao; chi phí nguyên liệu đầu vào tăng; giá cả dịch vụ ổn định các năm qua nên cơ sở đã điều chỉnh tăng 2-5% so với tháng trước;

- Trong tháng giá vàng trong nước tiếp tục có xu hướng tăng giá; tác động làm cho một số loại đồ trang sức như: dây chuyền, nhẫn giá tăng phổ biến từ 11-13% so với tháng trước.

- Bên cạnh đó, trong tháng các mặt hàng xăng, dầu nhiều lần được điều chỉnh tăng giá vào tháng Tết nên tính chung chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,59% so với tháng trước, đóng góp vào CPI tăng chung 0,07%.

* Các nhóm hàng hóa khác giá cả tương đối ổn định so với tháng trước; bên cạnh đó cũng có một số ít mặt hàng giá cả tuy có biến động nhưng không đáng kể nên góp phần vào việc bình ổn chỉ số giá CPI chung trên địa bàn tỉnh

DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 02 NĂM 2026 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH 

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+2,12%)

Trong tháng phần lớn các mặt hàng lương thực, thực phẩm tươi sống như: gạo, nếp, bún, mì, miến, phở, thủy hải sản, thịt gia súc, thịt và trứng gia cầm, trái cây,... giá cả có xu hướng tăng phổ biến từ 3-12% so với tháng trước; một số dịch vụ ăn uống ngoài gia đình có giá tăng phổ biến từ 1-2% vào những ngày cận Tết và trong Tết, sau Tết một số điểm cung cấp dịch vụ ăn uống có xu hướng giảm giá, quay trở lại giá bình thường. Giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình tăng tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm này tăng 2,12% so với tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 4,11%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,34%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 5,57%. Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng đóng góp vào CPI chung của tỉnh tăng 0,8% so với tháng trước. Nguyên nhân biến động giá từng nhóm hàng như sau:

1.1 Hàng lương thực (+1,65%):

Nhìn chung nguồn cung các mặt hàng gạo, nếp trên địa bàn rất dồi dào; tình hình thị trường nhu cầu gạo xuất khẩu có xu hướng tăng vào dịp cuối năm, giá lúa hàng hóa trong nước đang có xu hướng tăng, nhu cầu tiêu thụ dịp Tết Nguyên đán tăng mạnh góp phần làm cho giá cả các mặt hàng gạo, nếp, bún tươi, hủ tiếu sợi, mì, miến tăng phổ biến từ 1-3% so với tháng trước.

Diễn biến giá cả một số chủng loại gạo, nếp như sau: giá gạo tẻ ngon Tám thơm 17.000-21.000 đồng/kg; gạo tẻ ngon ST25 27.000-34.000 đồng/kg; gạo Thơm Lài 18.000-22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái 17.000-19.000 đồng/kg; gạo nếp thái 21.000-24.000 đồng/kg; gạo nếp sáp 19.000-22.000 đồng/kg.

Tính chung chỉ số giá nhóm lương thực tăng 1,65% so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ giảm 3,58%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm 5,27%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 4%.

1.2 Hàng thực phẩm (+2,62%):

Nhìn chung nguồn cung hàng hóa tiêu dùng thực phẩm trên địa bàn rất dồi dào, không có hiện tượng khan hàng, sốt giá. Tuy nhiên những tháng trước đây do tác động của dịch bệnh trên gia súc, gia cầm nên nhu cầu tái đàn trong dân giảm mạnh, nguồn cung tại địa phương hạn chế, giá bán sản phẩm thịt hơi tăng mạnh, một số sản phẩm trái cây vào cuối vụ thu hoạch, lượng cung giảm nên giá bán hàng nông sản tăng, nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng cao góp phần làm cho giá cả có xu hướng tăng so với tháng trước.

* Chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng so với tháng trước chủ yếu là do nguyên nhân sau:

Trong tháng là thời điểm diễn ra Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết tăng cao; giá cả hàng hóa nông sản tăng. Tính chung thì đa số các mặt hàng thịt heo, thịt bò, thịt chế biến và sản phẩm trứng gia cầm, thủy hải sản, trái cây,…giá bán tăng phổ biến từ 3-12% so với tháng trước. Cụ thể như sau:

-  Giá thịt heo các loại những ngày cận Tết bắt đầu từ 27 đến 29 âm lịch giá thịt heo tăng mạnh do nhu cầu mua sắm của người dân vào dịp Tết Nguyên đán tăng cao, cung không đủ đáp ứng cầu. Giá thịt heo các loại những ngày cận Tết như sau: thịt đùi từ 120.000-140.000 đồng/kg, thịt ba rọi-nạc từ 140.000-160.000 đồng/kg (riêng ba rọi rút sườn 180.000 đồng/kg), thịt sườn bẹ từ 180.000-200.000 đồng/kg. Sau Tết, giá có giảm nhẹ nhưng vẫn còn ở mức cao do lượng lao động khu vực ngoài nhà nước vẫn còn thời gian nghỉ Tết.

- Giá mặt hàng thịt bò bắt đầu tăng vào những ngày 28, 29 Tết từ 20.000-30.000 đồng/kg so với trước đó do nhu cầu tiêu dùng tăng, cụ thể giá bán lẻ bình quân dao động như sau: thịt bò phi lê từ 280.000-320.000 đồng/kg, thịt bò bắp giá từ 250.000-280.000 đồng/kg. Sau Tết, giá có giảm nhẹ nhưng vẫn còn ở mức cao.

- Giá cả các loại thịt gia cầm cận Tết giá bắt đầu dao động tăng từ 10.000-20.000 đồng/kg so với ngày thường, sau Tết giá có giảm nhẹ trở lại.

- Nhóm hàng thủy hải sản tươi sống trước giá cả có xu hướng tăng so với thời điểm cùng kỳ năm trước, một số mặt loại như: tôm, mực do nguồn hàng về chợ ít trong khi nhu cầu tăng nên giá vẫn giữ ở mức cao, các mức giá cụ thể như sau: Cá lóc đồng giá từ 190.000-200.000 đồng/kg; cá lóc bông giá từ 90.000-100.000 đồng/kg; cá lóc nuôi 65.000-70.000 đồng/kg; cá điêu hồng có giá 70.000-90.000 đồng/kg; tôm loại 3 có giá từ 200.000-250.000 đồng/kg; tôm loại 2 có giá từ 250.000-350.000 đồng/kg; tôm sú có giá từ 250.000-270.000 đồng/kg; mực ống có giá từ 320.000-350.000 đồng/kg; cua biển có giá từ 300.00-400.000 đồng/kg (tùy loại); tôm thẻ khô loại 2 có giá 940.000 đồng/kg; tôm khô giá bán từ 650.000-1.100.000 đồng/kg (tùy loại); mực khô có giá từ 600.000-1.400.000 đồng/kg (tùy loại).

- Rau củ quả và trứng gia cầm: Giá các loại rau củ trong những ngày cận Tết giá cả dao động giảm mạnh do thời tiết gần Tết thuận lợi cho việc gieo trồng, hoa màu trúng mùa, nguồn cung dồi dào, cung vượt quá cầu, giá bán hàng nông sản giảm để cạnh tranh tiêu thụ. Cụ thể mức giá một số loại như sau: rau muống từ 11.000-18.000 đồng/kg; cải xanh từ 16.000-20.000 đồng/kg; cà chua từ 18.000-35.000 đồng/kg (tùy loại thường hay hàng Đà Lạt), bắp cải từ 15.000-26.000 đồng/kg (tùy loại thường hay hàng Đà Lạt); củ cải, dưa chuột, cà rốt, bí xanh có giá từ 11.000-25.000 đồng/kg. Đối với mặt hàng trứng gia cầm có giá tăng nhẹ so với ngày thường do nhu cầu tiêu dùng những ngày cận Tết tăng cao, cụ thể giá trứng vịt lạc từ 35.000-45.000 đồng/chục; trứng vịt lộn từ 40.000-50.000 đồng/chục.

- Nhóm hàng trái cây phục vụ trong và sau Tết đa dạng về chủng loại và dồi dào về nguồn cung, đặt biệt các loại trái có múi và các loại trưng bày mâm ngũ quả có giá biến động tăng mạnh so với thời điểm trước Tết. Cụ thể giá bán một số loại trái cây dao động như sau: Giá  bưởi từ 30.000-50.000 đồng/kg; cam xoàn từ 25.000-45.000 đồng/kg; cam mật từ 40.000-60.000 đồng/kg; đu đủ từ 15.000-20.000 đồng/kg; dứa từ 25.000-35.000 đồng/kg; quýt đường, quýt hồng lai vung từ 40.000-70.000 đồng/kg (tùy loại); táo từ 80.000-110.000 đồng/kg; xoài từ 40.000-70.000 đồng/kg (tùy loại); thanh long từ 20.000-30.000 đồng/kg. Riêng dưa hấu chưng Tết có giá tăng so với ngày thường, dao động từ 20.000-25.000 đồng/kg, dưa hấu ăn từ 12.000-15.000 đồng/kg; tuy nhiên mặt hàng dưa hấu thị trường Tết năm nay bán không được giá so với thị trường Tết năm 2025 do nông dân trồng trúng mùa, sản lượng tăng mạnh, nguồn cung vượt quá so với nhu cầu của người tiêu dùng.

- Ngoài ra một số mặt hàng bánh, mứt giá cả cũng có xu hướng tăng phổ biến từ 1-3% so với tháng trước; do hàng hóa nhập vào tăng giá, chi phí đầu vào tăng; nhu cầu tiêu dùng của người dân các mặt hàng này trong thị trường Tết Nguyên đán tăng cao. Cụ thể giá bán một số loại như sau: bánh Choco-pie từ 50.000-60.000 đồng/hộp; bánh qui mặn, ngọt các loại từ 25.000-50.000 đ/hộp; mứt hạt sen từ 100.000-150.000 đồng/kg; mứt dừa thường, mứt dừa sữa có giá dao động từ 180.000-220.000 đồng/kg; mứt me 250.000 đồng/kg; mứt gừng 140.000 đồng/kg; hạt điều 280.000 đồng/kg; hạt dưa 170.000 đồng/kg; kẹo đậu phộng, mứt bí, mứt khoai lang có giá từ 30.000-50.000 đồng/hộp.

Tính chung trong tháng 02 năm 2026 chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,62% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 6,23%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,35%;  so với kỳ gốc năm 2024 tăng 8,17%.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình ( +0,85%):

Trong tháng là thời điểm diễn ra Tết Nguyên đán nên nhu cầu ăn uống ngoài gia đình có xu hướng tăng mạnh so với tháng trước; kết hợp với chi phí nguyên liệu đầu vào tăng; theo thông lệ hàng năm đây là thời điểm các ngành dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng giá. Một số dịch vụ ăn uống ngoài gia đình như: phở, bún, suất ăn tự chọn (buffet), xôi, các loại thức uống pha chế,… tăng giá phổ biến từ 1-3% so với tháng trước, cụ thể một số khu vực điều tra giá như sau: hủ tiếu có giá từ 30.000-50.000 đồng/tô; phở có giá từ 40.000-80.000 đồng/tô; cơm tấm 30.000 đồng/dĩa. Nước uống tăng trong dịp trước Tết dao động từ 15.000-25.000 đồng/ly (tùy loại). Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,85% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 2,69%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,86%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 4,96%.

2. Nhóm đồ uống và thuốc lá (+0,91%)

Nhìn chung nguồn cung ứng các mặt hàng bia, thuốc lá trên địa bàn rất dồi dào, cạnh tranh tiêu thụ nên giá bán tương đối ổn định so với tháng trước; tuy nhiên do tác động chi phí sản xuất tăng, thời điểm Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng tăng, đơn vị kinh doanh bình ổn giá khá lâu nên mặt hàng bia, nước ngọt giá tăng từ 1-4% so với tháng trước. Cụ thể giá cả các mặt hàng bia, nước ngọt trong các ngày cận Tết và sau Tết như sau: Bia Heineken bạc (lon 330ml) từ 470.000-500.000 đồng/thùng, bia chai Sài Gòn Lager từ 280.0000-300.000 đồng/thùng, bia Tiger bạc từ 350.000-370.000 đồng/thùng, Pepsi lon giá từ 190.000-200.000 đồng/thùng. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,91% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 2,86%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,45%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 4,43%.

3. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (+1,62%)

Nhìn chung nguồn cung hàng hóa nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép trên địa bàn rất dồi dào, tuy nhiên trong tháng là thời điểm Tết Nguyên đán nên nhu cầu mua sắm các mặt hàng như: vải, quần áo, giày dép có xu hướng tăng, chi phí nguyên liệu đầu vào tăng kéo theo giá cả một số mặt hàng này tăng phổ biến từ 1-3% so với tháng trước. Cụ thể như sau: vải các loại tăng 2,06%; quần áo may sẵn tăng 1,77%; may mặc khác và mũ nón tăng 1,47%; giày dép tăng 1,09%. Bên cạnh đó, giá cả các dịch may mặc tăng 2,03% so với tháng trước do giá các dịch vụ này ổn định đã lâu, chi phí đầu vào tăng, nhu cầu tăng mạnh vào dịp Tết nên cơ sở điều chỉnh tăng giá. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,62% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,65%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,54%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,49%.

4. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,91%)

Trong tháng chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước do ảnh hưởng từ các nhóm chính: nhà ở tăng 0,26%; nước sinh hoạt và dịch vụ khác liên quan đến nhà ở tăng 4,40%, điện và dịch vụ điện tăng 1,71% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do:

- Tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi kéo theo nhu cầu nhà ở cho công nhân tăng; nhu cầu tiêu dùng cho sinh hoạt trong dịp Tết tăng cao…tính chung giá nước sạch phục vụ sinh hoạt tăng 4,51%, giá điện sinh hoạt tăng 1,72%, dịch vụ cho thuê nhà ở theo tháng tăng 0,12% so với tháng trước.

- Giá cả các mặt hàng vật liệu xây dựng như: gạch, đá, xi măng, cát, sắt thép,…giá tăng phổ biến từ 1-2% so với tháng trước, nguyên nhân là do nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà, công trình xây dựng vào dịp cuối năm tăng cao, nguồn cung ứng giảm, chi phí đầu vào khai thác tăng, giá nguyên liệu nhập khẩu tăng;

- Trong tháng giá gas tăng 7.000 đ/bình góp phần làm cho chỉ số giá gas tăng 1,93% so với tháng trước;

- Mặt hàng dầu hỏa trong tháng nhiều lần được điều chỉnh giá tính chung chỉ số giá nhóm dầu hỏa tăng 4,37% (tăng 775 đ/lít) so với tháng trước.

Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,91% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 5,72%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,35%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 5,37%.

5. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,71%)

Hàng hóa thuộc nhóm này trên địa bàn tỉnh rất dồi dào và phần lớn giá cả bình ổn so với tháng trước; tuy nhiên do tác động của chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, hàng hóa nhập mới chuẩn bị cho thị trường Tết Nguyên đán tăng, xu hướng mua sắm những tháng cuối năm tăng, nhu cầu xã hội tăng cao nên tác động làm cho sản phẩm như: máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, ổn áp, đồ điện gia dụng, tủ, bàn, ghế, chén đĩa, chưng mâm quả ,cho thuê đồ dùng trong gia đình,… giá có xu hướng tăng phổ biến từ 1-3%; dịch vụ sửa chữa thiết bị gia đình có giá tăng 2-3%; thuê người phục vụ tăng 4,13% so với tháng trước.

Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,71% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,05%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,74%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,59%.

6. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+0,02%)

Giá cả dịch vụ y tế trên địa bàn ổn định; nguồn cung ứng thuốc, vật tư y tế rất dồi dào, đa dạng, cạnh tranh trong tiêu thụ, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc, điều trị bệnh của người dân trên địa bàn. Tuy nhiên do tác động chi phí đầu vào sản xuất tăng, hàng hóa mới nhập vào tăng, nên một số cơ sở kinh doanh bán lẻ mặt hàng thuốc tây đã điều chỉnh tăng giá nhẹ khoảng 1% so với tháng trước  (chủ yếu tăng giá các loại thuốc về đường hô hấp). Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,02% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,38%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,37%;so với kỳ gốc năm 2024 tăng 1,94%.

7. Nhóm giao thông (+1,46%)

- Trong tháng 02 năm 2026, mặt hàng xăng dầu nhiều được điều chỉnh giá tính chung như sau: xăng A95-III tăng 434 đồng/lít, xăng sinh học E5 tăng 319 đồng/lít, dầu diezel giá tăng 1.132 đồng/lít. Tính chung chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 1,95% so với tháng trước; giảm 8,76% so với cùng tháng năm trước; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm 9,37%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 12,78%.

Hiện nay giá bán lẻ xăng dầu tại thời điểm từ 15h ngày 26/02/2026 tại Vùng 1 như sau: xăng A95 (III) 20.150 đ/lít, xăng sinh học E5 19.520 đ/lít, dầu diezel (0,05S) 19.270 đ/lít, dầu hỏa 19.460 đ/lít.

- Dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại: do nhu cầu bão dưỡng phương tiện đi lại dịp Tết tăng cao, chi phí nhân công tăng, chi phí đầu vào phục vụ sản xuất tăng góp phần làm cho chỉ số giá nhóm này tăng 2,53% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 5,4%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,13%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 6,33%.

- Dịch vụ rửa xe, bơm xe: Những ngày cận Tết do nhu cầu người dân tăng cao nên giá dịch vụ rửa xe tăng nhẹ từ 3-5% so với tháng trước; cụ thể giá dịch vụ dao động như sau: rửa xe máy từ 25.000-40.000 đồng/lần; rửa xe ô tô từ 60.000-110.000 đồng/lần; giữ xe máy từ 3.000-5.000 đồng/lần; giữ xe ô tô từ 20.000-60.000 đồng/giờ. Sau Tết, giá ổn định trở lại.

- Dịch vụ giao thông công cộng: Do nhu cầu di chuyển của người dân trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao; tuy nhiên, hành khách chủ động đặt vé qua Tổng đài hệ thống từ trước nên giá vé không biến động nhiều. Do ảnh hưởng chi phí đầu vào như giá xăng dầu tăng, chi phí thuê lao động lái xe và các chi phí bến bãi làm cho giá xe tăng nhẹ so với năm trước. Cụ thể giá vé vận tải bằng đường bộ tuyến cố định Thành phố Hồ Chí Minh - Vĩnh Long tăng từ 10.000-20.000 đồng/vé so với ngày thường, giá dao động từ 100.000-130.000 đồng/vé. Sau Tết, giá cả có xu hướng ổn định trở lại.

Tính chung chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,46% so với tháng trước; so với tháng cùng tháng năm trước giảm 2,8%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm 3,24%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 5,05%.

8. Nhóm thông tin và truyền thông (+0,05%)

Trên địa bàn tỉnh cơ sở kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông ngày càng phát triển rất mạnh; sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng với chủng loại, mẫu mã liên tục được thay đổi theo nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng. Trong tháng một số mặt hàng như máy điện thoại di động thông thường, máy vi tính và phụ kiện; dịch vụ viễn thông lại có giá tăng nhẹ khoảng 1% so với tháng trước. Nguyên nhân do chi phí đầu vào tăng làm cho giá thành dịch vụ và sản phẩm tăng. Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,05% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước giảm 0,73%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước giảm 0,68%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 0,07%.

9. Nhóm giáo dục (ổn định)

Nhìn chung trong tháng nhu cầu mua sắm sách, vở, đồ dụng học tập diễn biến bình thường, nguồn cung dồi dào, giá cả bình ổn so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 2,14%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,38%.

10. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,32%)

Trong tháng là thời điểm Tết Nguyên đán nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân tăng cao; nguồn cung sản phẩm, dịch vụ thuộc nhóm này rất đa dạng, phong phú, cạnh tranh nên giá cả tương đối bình ổn. Tuy nhiên, do trùng vào thời điểm có Tết nên chi phí dịch vụ tăng, chi phí điện, nước, nhân công tăng,… góp phần làm do giá máy ảnh, máy quay video tăng 0,32%; chụp, in tráng ảnh tăng 0,2%; dụng cụ thể dục thể thao tăng 0,26%; vé thuê chỗ chơi thể thao tăng 0,09%; đồ chơi các loại tăng 0,05% so với tháng trước. Riêng các mặt hàng hoa kiểng, cây cảnh, vật cảnh do nhu cầu tăng mạnh vào dịp Tết, nguồn cung tại địa phương có hạn nên giá tăng phổ biến từ 1-7% so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng hóa này tăng 0,32% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 0,6%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 0,45%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,83%.

11. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+1,34%)

Trong tháng là thời điểm có Tết Nguyên đán nên nhu cầu thẩm mỹ, làm đẹp, mua bán các mặt hàng đồ trang sức, đồ dùng cá nhân tăng cao tác động làm cho giá tăng so với tháng trước. Cụ thể như sau: uốn tóc nữ tăng 3-5%; gội đầu nữ tăng 3,68%; sơn móng tay tăng 2,45%; sản phẩm đồ trang sức bằng vàng tăng từ 11-13%, đồ dùng cá nhân tăng 1,41%,…

Tính chung chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,34% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 4,95%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 4,49%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 8,42%.

12. Nhóm chỉ số giá vàng và Dollar Mỹ

- Chỉ số giá vàng (+11,5%): Trong tháng là thời điểm có Tết Nguyên đán, vào mùa cưới hỏi nên nhu cầu trao đổi mua bán vàng diễn ra rất sôi nổi; nhìn chung giá vàng biến động hàng ngày theo xu hướng chung của thị trường trong nước và thế giới; mức độ biến động phổ biến các ngày trong tháng từ 100.000-200.000 đ/chỉ. Tính chung bình quân chung trong tháng giá bán tăng 1.732.836 đ/chỉ so với tháng trước. Tính bình quân trong kỳ tính giá thì vàng nhẫn 99,99% bán ra ở mức 16.804.066 đ/chỉ. So với tháng trước tăng 11,5%; so với cùng tháng năm trước tăng 80,79%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 74,83%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 126,89%.

- Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,76%): Trong tháng giá bán USD tại Ngân hàng Vietinbank biến động theo xu hướng chung của đồng ngoại tệ trong nước; nhìn chung giá cả USD có xu hướng giảm khoảng 318 đ/USD so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 2,77%; bình quân 2 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,02%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 4,22%. Vào thời điểm ngày 24/02/2026 giá bán ra là 26.295 đồng/USD.

THỐNG KÊ

Lượt truy cập: 1644282