15/10/2026 10:00:06
Tình hình biến động giá tiêu dùng tháng 07 năm 2026
Trong tháng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ngành tiếp tục có xu hướng tăng khá; nhu cầu đi lại, vui chơi giải trí của người dân tăng do đang vào thời gian nghỉ hè của học sinh, sinh viên. Nhu cầu tiêu dùng có xu hướng tăng, tình hình xuất khẩu một số mặt hàng nông sản tăng kéo theo một số mặt hàng thực phẩm tươi sống giá bán tăng. Tuy nhiên, trong tháng do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm; bước vào mùa mưa, nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt cũng giảm góp phần làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 năm 2026 giảm 0,31% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 4,81%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,2%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ tăng 4,4%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 6,24%.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính; có 8 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,39%; May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,95%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,5%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,04%; Thông tin và truyền thông tăng 0,03%; Giáo dục tăng 0,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,52%. Bên cạnh đó, nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,04%; Nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,35%; Giao thông giảm 2,17% so với tháng trước.
Các yếu tố góp phần tăng chỉ số giá CPI trong tháng 7 năm 2026 chủ yếu là do:
- Trong tháng, chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,35% so với tháng trước. Nguyên nhân do giá cả các mặt hàng thực phẩm tươi sống như thịt gia súc, gia cầm; trứng gia cầm, rau củ quả có giá bán giảm nhẹ từ 5-10% so với tháng trước. Nguyên nhân do đang vào mùa thu hoạch rộ, nguồn cung nông sản, thủy sản tại địa phương dồi dào; giá bán của người sản xuất hàng nông sản giảm, giá sản phẩm thịt hơi giảm mạnh do ảnh hưởng tình hình tiêu thụ đầu ra không thuận lợi góp phần làm cho chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,04%, đóng góp vào CPI chung giảm 0,02%.
- Trong tháng giá mặt hàng gas giảm 6.661 đồng/kg, góp phần làm cho chỉ số giá nhóm ga và các loại chất đốt khác giảm 12,67% so với với tháng trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,18% so với tháng trước;
- Trong tháng các mặt hàng xăng dầu 5 lần được điều chỉnh giá tính chung như sau: xăng Xăng E10 RON 95-III giảm 1.034 đồng/lít, dầu Diesel giảm 2.300đồng/lít; đóng góp vào CPI chung giảm khoảng 0,19% so với tháng trước;
- Trong tháng giá vàng trong nước và đồ trang sức giảm so với tháng trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng giá vàng thế giới giảm; tỷ giá đồng USD tăng; nguồn cung vàng trong nước ổn định; nhu cầu tích trữ vàng trong dân có xu hướng giảm góp phần làm cho chỉ số giá đồ trang sức giảm 4,5%.
Bên cạnh đó, cũng có các yếu tố tác động góp phần kéo giảm chỉ số giá tiêu dùng trong tháng 7 năm 2026 như sau:
- Các loại đồ uống như nước khoáng, nước ngọt, nước ép hoa quả, bia các loại, thuốc lá giá tăng phổ biến từ 1-2% so với tháng trước; do chi phí nguyên liệu đầu vào sản xuất tăng, chi phí vận hành máy móc, nhân công tăng, giá vốn hàng bán tăng, nhu cầu tiêu dùng tăng góp phần làm cho giá bán nhà cung cấp tăng tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,39% so với tháng trước; đóng góp vào CPI tăng chung 0,01%;
- Các mặt hàng may mặc, mũ nón, giày dép trong tháng tăng do nhu cầu mua sắm tiêu dùng cho du lịch hè và chuẩn bị đầu năm học mới tăng mạnh, chi phí đầu vào sản xuất tăng tác động giá bán sản phẩm hàng may mặc tăng phổ biến 3-5%, góp phần làm cho chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,95% so với tháng trước; đóng góp vào CPI tăng chung 0,03%;
- Một số các mặt hàng đồ dùng trang thiết bị gia đình giá tăng phổ biến từ 2-5% so với tháng trước. Nguyên nhân do tác động chi phí đầu vào tăng, giá nhập khẩu tăng góp phần làm cho chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,5% so với tháng; đóng góp vào CPI tăng chung 0,03%;
- Trong tháng, ảnh hưởng Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 là 2.530.000 đồng/tháng kéo theo chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước, góp phần làm cho chỉ số giá nhóm Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,52% so với tháng trước, đóng góp vào CPI tăng chung 0,09%.
Diễn biến giá cả tiêu dùng tháng 6 của một số nhóm hàng chính
1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,04%)
Trong tháng một số mặt hàng thực phẩm tươi sống như thịt gia súc, gia cầm; trứng gia cầm, rau củ quả có giá bán giảm so với tháng trước. Do đang vào mùa thu hoạch rộ, nguồn cung nông sản, thủy sản tại địa phương dồi dào; giá bán của người sản xuất hàng nông sản giảm, giá sản phẩm thịt hơi giảm mạnh so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng hoá này giảm 0,04% so với tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 5,18%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,57%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ tăng 4,28%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 7,13%. Diễn biến giá cả một số nhóm hàng như sau:
1.1. Hàng lương thực (+0,75%):
Nhìn chung nguồn cung các mặt hàng lương thực và lương thực chế biến như: gạo, nếp, bột mì; bắp; bánh mì; bún, phở; mì... giá cả có xu hướng tăng nhẹ từ 1-2% so với tháng trước; nguyên nhân giá tăng là do nguồn cung giảm, giá bán hàng nông sản tăng, chi phí đầu vào sản xuất tăng, chi phí nhập hàng đầu vào tăng giá, nhu cầu tiêu dùng thị trường lúa gạo nội địa tăng.
Diễn biến một số chủng loại lương thực tiêu dùng phổ biến giá cả dao động như sau: giá gạo tẻ thường từ 17.000-18.500đ/kg, gạo tẻ ngon từ 20.000-26.000 đ/kg, gạo nếp thường khoảng 21.500đ/kg, gạo nếp ngon từ 23.000-26.000 đ/kg,…
Tính chung chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,75% so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ tăng 1,08%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,38%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 2,04%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 giảm 1,86% so với cùng kỳ; đóng góp vào CPI chung tăng 0,04%.
1.2. Hàng thực phẩm (-0,35%):
Nhìn chung nguồn cung các mặt hàng thực phẩm tươi sống trên địa bàn tỉnh rất dồi dào; đang vào mùa thu hoạch rộ nên giá bán của người sản xuất hàng nông sản giảm, giá sản phẩm thị hơi trong tháng giảm do tình hình tiêu thụ đầu ra không thuận lợi, cung vượt cầu trong khi nhu cầu sản xuất và tiêu dùng ổn định góp phần làm cho giá bán một số mặt hàng thực phẩm tươi sống bán lẻ có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước.
- Phần lớn các mặt hàng thịt gia súc, gia cầm đông lạnh; thịt chế biến và trứng các loại giá cả giảm phổ biến từ 2-4% so với tháng trước. Nguyên nhân do nguồn cung sản phẩm thịt hơi tại địa phương dồi dào, cung vượt quá cầu, tình hình tiêu thụ sản phẩm đầu ra không thuận lợi, nhu cầu sản xuất ổn định, giá bán của người sản xuất giảm. Cụ thể chỉ số giá thịt gia súc giảm 1,9%; thịt gia cầm đông lạnh giảm 0,76%; thịt chế biến khác giảm 0,21%; trứng các loại giảm 0,54% so với tháng trước.
- Một số mặt hàng rau cải, trái cây tươi sống giá bán giảm phổ biến từ 2-10% so với tháng trước. Nguyên nhân giá bán giảm là do nguồn cung tại địa phương dồi dào, nhu cầu sản xuất và tiêu dùng giảm, cung vượt quá cầu, giá bán hàng nông sản giảm mạnh.
Tính chung trong tháng 7 năm 2026 chỉ số giá tiêu dùng nhóm hàng thực phẩm giảm 0,35% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 5,48%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,04%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 8,47%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,09%.
1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,34%):
Trong tháng giá cả các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,34% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 7,11%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 6,48%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 10,26%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp vào CPI chung tăng 0,03%. Nguyên nhân là do chi phí đầu vào sản xuất tăng, giá nguyên liệu đầu vào chế biến tăng, chi phí mặt bằng và chi phí nhân công tăng kéo theo một số dịch vụ ăn ngoài gia đình tăng giá phổ biến từ 1-8% so với tháng trước.
2. Nhóm đồ uống và thuốc lá (+0,39%)
Nhìn chung nguồn cung ứng các mặt hàng bia, thuốc lá trên địa bàn rất dồi dào, nhu cầu tiêu dùng ổn định; tuy nhiên do tác động chi phí sản xuất đầu vào tăng; giá nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ cho quá trình sản xuất tăng; chi phí vận chuyển, vận hành máy móc tăng, chi phí nhân công tăng góp phần làm cho giá cả nhóm hàng đồ uống và thuốc lá có xu hướng tăng so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,39% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 4,0%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 3,69%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 7,02%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm; đóng góp vào CPI chung tăng khoảng 0,01% so với tháng trước.
3. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (+0,95%)
Nhìn chung nguồn cung hàng hóa nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép trên địa bàn rất dồi dào, tuy nhiên do chi phí nguyên liệu đầu vào sản xuất tăng, chi phí vận chuyển tăng, nhu cầu mua sắm mùa du lịch và đầu năm học mới tăng kéo theo giá cả một số mặt hàng này tăng phổ biến từ 1-2% so với tháng trước. Cụ thể như sau: vải các loại tăng 0,79%; quần áo may sẵn tăng 0,93%; may mặc khác và mũ nón tăng 0,49%; giày dép tăng 1,24%. Bên cạnh đó, giá cả các dịch vụ may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,02% so với tháng trước do giá các dịch vụ này ổn định đã lâu, chi phí đầu vào tăng, giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất tăng nên cơ sở điều chỉnh tăng giá. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,95% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 6,32%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 5,67%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 6,25%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 4,3% so với cùng kỳ năm; đóng góp vào CPI chung tăng khoảng 0,03%.
4. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (-1,35%)
Trong tháng chỉ số giá nhóm này có xu hướng giảm so với tháng trước chủ yếu là do nguyên nhân sau:
- Nhóm điện và dịch vụ điện giảm 2,71% so với tháng trước, đóng góp vào CPI chung giảm 0,13%. Nguyên nhân do thời tiết bước vào mùa mưa nên nhu cầu sử dụng điện sinh hoạt giảm kéo theo sản lượng điện tiêu thụ giảm góp phần làm cho giá điện giảm 84 đ/kwh so với tháng trước.
- Trong tháng giá mặt hàng gas giảm 6.661 đồng/kg, góp phần làm cho chỉ số giá nhóm ga và các loại chất đốt khác giảm 12,67% so với với tháng trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,18% so với tháng trước.
Tính chung chỉ số giá nhóm này giảm 1,35% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 6,91%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 6,18%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 10,22%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,28% so với tháng trước.
5. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,5%)
- Do tác động của chi phí nguyên liệu đầu vào, hàng hóa nhập khẩu tăng, chi phí sản xuất tăng nên nhà cung cấp tăng giá bán phổ biến từ 1-3% một vài chủng loại đồ thiết bị dùng trong gia đình như: máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, và một số đồ dùng gia đình. Cụ thể: nhóm thiết bị dùng trong gia đình tăng 0,14%; đồ dùng trong nhà tăng 0,55% so với tháng trước.
- Nhóm dịch vụ thê người giúp việc theo giờ tăng giá do nguồn cung lao động tại địa phương khan hiếm, nhu cầu thuê người giúp việc theo giờ của các hộ gia đình tăng trong dịp hè; chi phí nhân công tăng do mức tiền công lao động phổ thông được điều chỉnh tăng góp phần làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ trong gia đình tăng 1,86% so với tháng trước.
Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,5% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 5,49%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,58%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 6,98%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 4,08% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp vào CPI chung tăng 0,03% so với tháng trước.
6. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế (+0,04%)
Giá cả dịch vụ y tế trên địa bàn ổn định; nguồn cung ứng thuốc, vật tư y tế rất dồi dào, đa dạng, cạnh tranh trong tiêu thụ, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc, điều trị bệnh của người dân trên địa bàn. Tuy nhiên do tác động chi phí đầu vào sản xuất tăng, hàng hóa mới nhập vào tăng, nên một số cơ sở kinh doanh bán lẻ mặt hàng thuốc tây đã điều chỉnh tăng giá nhẹ đối với thuốc các loại và thiết bị y tế so với tháng trước. Cụ thể như sau: một số loại thuốc liên quan đến nhóm thuốc chống nhiễm, điều trị ký sinh trùng, thuốc tim mạch, thuốc chống dị ứng, thuốc giảm đau, hạ sốt, cảm hô hấp giá tăng từ 1-2%, góp phần làm cho chỉ số giá nhóm thuốc các loại tăng 0,2%; nhóm dụng cụ y tế như băng dính y tế, bơm kim tiêm, cặp nhiệt độ, máy đo huyết áp, máy đo tiểu đường,… tăng 0,45% so với tháng trước;
Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,04% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 0,33%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 0,23%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 2,13%; bình quân 7 tháng đầu năm 2026 tăng 1,22% so với cùng kỳ năm trước.
7. Nhóm giao thông (-2,17%)
Trong tháng chỉ số giá nhóm nhiên liệu giảm 4,64% so với tháng trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,19%. Nguyên nhân do giá dầu thế giới hạ nhiệt kéo theo giá xăng, dầu các loại trong nước được điều chỉnh giảm nhiều lần trong tháng. Cụ thể như sau: mặt hàng xăng dầu được điều chỉnh giá tăng, giảm 5 lần trong tháng, trong đó: xăng sinh học E10 RON 95-III giảm 1.034 đ/lít, dầu Diezel giảm 2.300 đ/lít.
Ảnh hưởng giá nhiên liệu giảm làm cho chi phí đầu vào phục vụ vận tải giảm góp phần làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ giao thông công cộng giảm 1,34% so với tháng trước.
Tính chung chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,17% so với tháng trước; tăng 4,16% so với cùng tháng năm trước; so với tháng 12 năm 2025 tăng 4,45%; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 0,07%. bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 5,66% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp vào CPI chung giảm 0,18%.
8. Nhóm thông tin truyền thông (+0,03%)
Trên địa bàn tỉnh cơ sở kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông ngày càng phát triển rất mạnh; sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng với chủng loại, mẫu mã liên tục được thay đổi theo nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng; kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt góp phần bình ổn giá sản phẩm hàng hóa của nhóm này. Một số sản phẩm thiết bị thông tin và truyền thông như: máy điện thoại di động; máy vi tính, máy in, máy chiếu, thiết bị âm thanh do nhu cầu tăng, thị trường hút hàng nên giá bán sản phẩm tăng.
Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,03% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước giảm 0,04%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 0,51%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,41%; bình quân 7 tháng năm 2026 giảm 0,35% so với cùng kỳ năm trước.
9. Nhóm giáo dục (+0,07%)
Nhìn chung trong tháng nhu cầu mua sắm văn phòng phẩm và đồ dùng học tập có xu hướng tăng nhẹ do chuẩn bị vào năm học mới tác động chỉ số giá đồ dùng học tập và văn phòng tăng 0,18% so với tháng trước.
Riêng dịch vụ giáo dục nghề nghiệp (cụ thể đào tạo nghề tóc) tăng 200.000 đ/tháng so với với trước; do đơn vị ổn định giá khá lâu, trước tình hình chi phí đầu vào như: phụ liệu làm tóc; điện; nước; mặt bằng đều có xu hướng tăng giá nên đơn vị điều chỉnh giá tăng theo.
Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,07% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 2,19%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 0,24%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,62%; bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước.
10. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,04%)
Trong tháng do ảnh hưởng chi phí đầu vào in ấn tăng, chi phí phát hành tăng làm cho các sản phẩm sách báo, tạp chí các loại,… giá cả tăng 0,41% so với tháng trước. Bên cạnh đó, thời tiết nắng nóng kéo dài, nhu cầu vui chơi, giải trí kết hợp thể thao tăng kéo theo giá vé bơi lội tăng 0,25% so với tháng trước. Riêng các mặt hàng hoa, cây cảnh, vật cảnh những tháng gần đây do tác động thời tiết năng nóng, diện tích gieo trồng giảm, nguồn cung giảm, nhu cầu tăng nên giá cả các mặt hàng cây, hoa cảnh tăng 0,81% so với tháng trước.
Tính chung chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 1,25%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 1,03%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 1,5%; bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước.
11. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+2,52%)
Hiện nay, tình hình kinh tế cũng đã dần đi vào ổn định nhu cầu mua sắm vật dụng, máy móc phục vụ nhu cầu làm đẹp, chăm sóc sắc đẹp của người dân cũng đã dần quay trở lại và có chiều hướng gia tăng trong những tháng gần đây; dịch vụ phục vụ cá nhân như cắt tóc, gội đầu cũng có xu hướng tăng,… góp phần làm cho chỉ số giá nhóm đồ dùng cá nhân tăng 0,66%; nhóm dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,11% so với tháng trước.
Trong tháng do ảnh hưởng Nghị định số 161/2026/NĐ-CP, mức lương cơ sở từ ngày 01/7/2026 là 2.530.000 đồng/tháng kéo theo chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước, đóng góp vào CPI tăng chung 0,09%.
Tính chung chỉ số giá nhóm hàng hóa này tăng 2,52% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 7,21%; so với tháng 12 năm 2025 tăng 5,47%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 12,32%; bình quân 7 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 5,08%.
12. Nhóm chỉ số giá vàng và Dollar Mỹ
- Chỉ số giá vàng (-4,5%): Trong tháng 7 năm 2026 giá vàng trong nước tiếp tục giảm so với tháng trước. Liên tục trong hơn 2 tháng nay giá vàng trong nước cũng chịu ảnh hưởng từ giá vàng thế giới đã đồng loạt giảm sâu do đồng USD đang mạnh lên và hoạt động bán chốt lời của các nhà đầu tư làm cho giá vàng giảm mạnh và góp phần làm cho chỉ số giá vàng giảm 4,5% so tháng trước, tăng 15,74% so cùng tháng năm trước; tăng 78,6% so kỳ gốc năm 2024. Tính chung bình quân chung trong tháng giá bán giảm 625.174đ/chỉ so với tháng trước; tính bình quân chung 7 tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng 46,71%.
- Chỉ số giá đô la Mỹ (+0,19%): Trong tháng giá bán USD tại Ngân hàng Vietinbank biến động theo xu hướng chung của đồng ngoại tệ trong nước; những bất ổn về chính trị trên thế giới đã khiến các nhà đầu tư tìm đến USD như một kênh đầu tư an toàn và giảm bớt rủi ro. Chính sách tiền tệ giữ lãi suất cao giúp tiền gửi bằng USD sinh lời tốt hơn, thu hút nhà đầu tư mua vào nhiều làm cho giá USD tăng 0,19% so tháng trước, tăng 0,40% so cùng tháng năm trước; tăng 5,47% so kỳ gốc năm 2024. Tính bình quân chung 7 tháng năm 2026 chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước.
Địa chỉ: 196C, Khóm 4, Phường Long Châu, tỉnh Vĩnh Long
Điện thoại: (0270) 3823646 | Fax: (0270) 3833608 | Email: vinhlong@nso.gov.vn