17/12/2025 13:54:28

Tình hình biến động giá tiêu dùng tháng 11 năm 2025

Trong tháng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các ngành tiếp tục có xu hướng tăng khá; tuy nhiên do ảnh hưởng thời tiết mưa bão tình hình sản xuất các loại rau màu gặp khó khăn, giá bán của người sản xuất hàng nông sản có xu hướng tăng cao (nhất là mặt hàng rau cải các loại) tác động làm cho giá thực phẩm tươi sống tăng; nhiên liệu xăng dầu có xu hướng tăng giá. Tính chung chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 năm 2025 tăng 0,35% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 2,82%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 2,65%; bình quân 11 tháng năm 2025 so cùng kỳ tăng 3,11%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 1,61%.

Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 8 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước như: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,46%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,29%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và VLXD tăng 0,28%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; Giao thông tăng 1,21%; Giáo dục tăng 0,01%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,21%. Bên cạnh đó, có 02 nhóm hàng giảm giá so với tháng trước như: May mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,1%; thông tin và truyền thông giảm 0,1%. Riêng nhóm Thuốc và dịch vụ y tế giá cả ổn định so với tháng trước.

Chỉ số giá CPI tháng 11 năm 2025 trên địa bàn có xu hướng tăng nhẹ, nguyên nhân chủ yếu là do:

- Các mặt thịt gia cầm, thủy hải sản giá tăng phổ biến từ 2-5%; đặc biệt mặt hàng rau cải các loại giá tăng rất mạnh từ 5-20% so với tháng trước; do tác động thời tiết mưa bão, triều cường dâng cao nguồn cung thu hoạch nông sản giảm mạnh; tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,77% so với tháng trước; đóng góp vào CPI tăng chung khoảng 0,2% so với tháng trước;

- Các mặt hàng xăng dầu nhiều lần được điều chỉnh giá theo xu hướng chung của thị trường nên tính chung chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 2,4% so với tháng trước;

- Các mặt hàng vật liệu xây dựng như: cát, đá, xi măng giá tăng phổ biến từ 2-3% so với tháng trước;

- Trong tháng giá vàng trong nước tiếp tục có xu hướng tăng giá; tác động làm cho một số loại đồ trang sức như: dây chuyền, nhẫn giá tăng phổ biến từ 2-6% so với tháng trước.

DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 11 NĂM 2025 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH 

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (+0,46%)

Trong tháng phần lớn các mặt hàng thực phẩm tươi sống như: rau củ quả tươi sống, thủy hải sản, trái cây,... giá cả có xu hướng tăng phổ biến từ 3-20% so với tháng trước. Giá thực phẩm tăng tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm hàng hoá này tăng 0,46% so với tháng trước; so cùng tháng năm trước tăng 1,05%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 1,2%; bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 2,65%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 1,36%. Nguyên nhân biến động giá từng nhóm hàng như sau:

1.1. Hàng lương thực (-0,71%):

Nhìn chung nguồn cung các mặt hàng gạo, nếp trên địa bàn rất dồi dào; giá bán của người sản xuất mặt hàng nông sản có xu hướng giảm; góp phần làm cho giá bán lẻ các mặt hàng gạo, nếp có xu hướng giảm nhẹ phổ biến từ 1-2% so với tháng trước. Diễn biến giá cả một số chủng loại gạo, nếp như sau: giá gạo tẻ thường từ 15.500-17.500 đ/kg, gạo tẻ ngon từ 20.000-22.000 đ/kg, gạo nếp thường 19.000-22.000đ/kg, gạo nếp ngon từ 24.000-28.000 đ/kg,…

Tính chung chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,71% so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ giảm 8,06%; so với tháng 12 năm 2024 giảm 8,13%; bình quân 11 tháng năm 2025 giảm 3,78% so với cùng kỳ; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 6,53%.

1.2. Hàng thực phẩm (+0,81%):

Nhìn chung nguồn cung hàng hóa tiêu dùng thực phẩm trên địa bàn rất dồi dào, không có hiện tượng khan hàng, sốt giá. Tuy nhiên trong tháng do tác động của thời tiết mưa bão, triều cường dâng cao sản xuất một số mặt hàng rau màu gặp khó khăn, nguồn cung nông sản giảm mạnh góp phần làm cho một số mặt hàng nông sản giá bán của người sản xuất có xu hướng tăng cao; mặt khác trong tháng là thời điểm diễn ra năm học mới, Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11,... nên kéo theo nhu cầu tiêu dùng có xu hướng tăng; một số mặt hàng nông sản xuất khẩu thuận lợi kéo theo phần lớn các mặt hàng nông sản bán lẻ đến tay người tiêu dùng giá cả có xu hướng tăng như: rau củ, quả các loại, trái cây, thủy sản,... góp phần làm cho chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng so với tháng trước.

Trong tháng chỉ số giá nhóm hàng thực phẩm tăng chủ yếu là do nguyên nhân sau:

- Các mặt hàng thịt gia cầm, thủy hải sản giá cả có xu hướng tăng nhẹ phổ biến từ 2-3% so với tháng trước; thời điểm này bà con nông dân sản xuất, nuôi trồng phần lớn để phục vụ thị trường cuối năm nên sản lượng cung cấp ra thị trường giảm, nhu cầu tiêu dùng tăng, giá bán của người sản xuất hàng nông sản tăng.

- Các mặt hàng rau, củ, quả các loại như: su hào, cà chua, rau muống, đậu cô ve, bí xanh, dưa leo, củ cải, cà rốt, bí đỏ, cà tím, cải xanh, hành lá,…giá cả tăng phổ biến từ 8-20% so với tháng trước; nguyên nhân giá tăng là do thời điểm này bà con nông dân tập trung sản xuất cung cấp sản phẩm cho thị trường cuối năm, tác động của thời tiết mưa bão, triều cường dâng cao sản xuất rau màu gặp khó khăn kéo theo nguồn cung giảm, chi phí sản xuất tăng, giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông sản tăng.

Tính chung chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,81% so với tháng trước; so với cùng kỳ tăng 2,28%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 2,7%; bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 3,6% so với cùng kỳ; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 2,66%.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,21%):

Trong tháng là thời điểm trùng vào Ngày nhà giáo Việt Nam 20/11; nhu cầu ăn uống ngoài gia đình tiếp tục có xu hướng tăng khá mạnh so với tháng trước (đặc biệt là tại trung tâm hành chính chính trị của tỉnh),…góp phần làm cho phần lớn các dịch vụ ăn uống ngoài gia đình giá cả có xu hướng tăng nhẹ từ 1-2% so với tháng trước. Tác động làm cho chỉ số giá nhóm dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 0,21% so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,32%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 2,8%; bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,53%.

2. Nhóm đồ uống và thuốc lá (+0,29%)

Nhìn chung nguồn cung ứng các mặt hàng bia, thuốc lá trên địa bàn rất dồi dào, cạnh tranh tiêu thụ nên giá bán tương đối ổn định so với tháng trước; tuy nhiên do tác động chi phí sản xuất tăng, thời điểm cuối năm nhu cầu tiêu dùng tăng, đơn vị kinh doanh bình ổn giá khá lâu nên mặt hàng rượu, bia giá tăng từ 1-2% so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 0,29% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 1,9%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 1,89%; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,51%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,16%.

3. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép (-0,1%)

Nhìn chung nguồn cung hàng hóa nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép trên địa bàn rất dồi dồi, giá cả tương đối bình ổn so với tháng trước; riêng một số địa bàn lấy giá tại khu vực tỉnh Bến Tre, Trà Vinh cũ giá cả một số hàng hóa thuộc nhóm này có xu hướng giảm từ 2-3% so với tháng trước do tình hình tiêu thụ chậm. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,1% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 1,1%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 0,75%; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,38%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,43%.

4. Nhóm nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng (+0,28%)

Trong tháng chỉ số giá nhóm này có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước; nguyên nhân chủ yếu là do:

- Trong tháng mặt hàng dầu hỏa liên tiếp nhiều lần được điều chỉnh giá, tính chung chỉ số giá nhóm dầu hỏa tăng 6,42% (tăng 1.189 đ/lít) so với tháng trước;

- Do nhu cầu xây dựng những tháng cuối năm tăng cao; chi phí nhân công tăng, nguồn cung ứng nguyên liệu giảm nên góp phần làm cho một số loại vật liệu xây dựng như: đá, cát, xi măng giá tăng phổ biến từ 1-3% so với tháng trước.

* Riêng giá gas khoảng 5.000 đ/bình góp phần làm cho chỉ số giá gas giảm 1,47% so với tháng trước;

Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,28% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 5,23%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 4,66%; bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 3,76%.

5. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,07%)

Hàng hóa thuộc nhóm này trên địa bàn tỉnh rất dồi dào và phần lớn giá cả bình ổn so với tháng trước; tuy nhiên do tác động của chi phí nguyên liệu đầu vào tăng, hàng hóa nhập mới chuẩn bị cho thị trường cuối năm, xu hướng mua sắm những tháng cuối năm tăng nên tác động làm cho sản phẩm như: giường, tủ, bàn, ghế,…giá bán có xu hướng tăng nhẹ từ 1-2% so với tháng trước.

Tính chung chỉ số giá nhóm này tăng 0,07% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 2,04%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 1,92%; bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 1,94% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 2,03%.

6. Nhóm giao thông (+1,21%)

Trong tháng 11 năm 2025, mặt hàng xăng dầu nhiều lần được điều chỉnh giá tính chung như sau: xăng A95-III tăng 529 đồng/lít, xăng sinh học E5 tăng 427 đồng/lít; dầu diezel tăng 970 đồng/lít. Tính chung chỉ số giá nhóm nhiên liệu tăng 2,4% so với tháng trước tác động trực tiếp làm cho chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,21% so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 1,26%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 0,66%; bình quân 11 tháng năm 2025 giảm 2,45% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 giảm 3,12%.

 

Hiện nay giá bán lẻ xăng dầu tại thời điểm từ 15h ngày 27/11/2025 tại Vùng 1 như sau: xăng A95 (III) 20.000 đ/lít, xăng sinh học E5 19.280 đ/lít, dầu diezen (0,05S) 19.800 đ/lít, dầu hỏa 19.470 đ/lít.

7. Nhóm thông tin và truyền thông (-0,1%)

Trên địa bàn tỉnh cơ sở kinh doanh sản phẩm, dịch vụ thông tin và truyền thông ngày càng phát triển rất mạnh; sản phẩm, dịch vụ ngày càng đa dạng với chủng loại, mẫu mã liên tục được thay đổi theo nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng; kinh doanh cạnh tranh ngày càng gay gắt góp phần bình ổn giá sản phẩm hàng hóa của nhóm này. Tuy nhiên theo thời gian, nhất là mặt hàng điện thoại, máy tính bảng rất nhanh thay đổi mẫu mã, thị trường liên tục thay đổi, bỏ mẫu,…tác động làm cho một số sản phẩm mặt hàng này giá cả có xu hướng giảm nhẹ từ 1-2% so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm này giảm 0,1% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước giảm 0,5%; so với tháng 12 năm 2024 giảm 0,51%; bình quân 11 tháng năm 2025 giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,02%.

8. Nhóm giáo dục (+0,01%)

Nhìn chung nhu cầu mua sắm sách, vở, đồ dùng học tập có xu hướng tăng cao; kéo theo một số loại như: giấy, hộp bút,… giá tăng nhẹ phổ biến từ 1-2% so với tháng trước; riêng thị trường sách giáo khoa cho năm học mới 2025-2026 rất dồi dào, giá cả tương đối bình ổn so với tháng trước.

Tính chung chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 0,01% so với tháng trước; so với tháng cùng kỳ năm trước tăng 2,12%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 2,13%; bình quân 11 tháng năm 2025 tăng 0,73% so với cùng kỳ năm trước; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,38%.

9. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch (+0,02%)

Đa số các hàng hóa, dịch vụ thuộc nhóm này giá bình ổn; tuy nhiên do tác động chi phí nhập hàng mới đầu vào tăng giá, thời điểm cuối năm nhu cầu tiêu dùng tăng nên kéo theo một số mặt hàng giá cả có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,02% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 0,66%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 0,53%; bình quân 11 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 1,1%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 0,47%.

10. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác (+0,21%)

Đa số các hàng hóa, dịch vụ thuộc nhóm này giá bình ổn; tuy nhiên do tác động giá vàng trên thị trường tiếp tục có xu hướng tăng cao nên kéo theo giá vàng trang sức tăng phổ biến từ 3-6% so với tháng trước. Tính chung chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,21% so với tháng trước; so với cùng kỳ năm trước tăng 5,54%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 4,33%; bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 7,12%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 6,41%.

11. Nhóm chỉ số giá vàng và Dollar Mỹ

- Chỉ số giá vàng (+0,89%): Nhìn chung giá vàng trên địa bàn tỉnh biến động hàng ngày theo xu hướng chung của thị trường vàng trong nước và thế giới; trong tháng mức độ dao động hàng ngày rất lớn từ 100.000-2.00.000 đ/chỉ. Tính chung giá bán tăng 124 ngàn đồng/chỉ so với bình quân tháng trước. Tính bình quân trong kỳ tính giá, giá vàng nhẫn 99,99% bán ra ở mức 14.028 ngàn đồng/chỉ, tăng 0,89% so với tháng trước, so với cùng tháng năm trước tăng 57,24%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 59,34%; bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 45,4%; so với kỳ gốc năm 2024, giá vàng tăng gần gấp 2 lần.

- Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,06%): Trong tháng giá bán USD tại Ngân hàng Vietinbank biến động theo xu hướng chung của đồng ngoại tệ trong nước; nhìn chung giá cả USD có xu hướng giảm nhẹ khoảng 17 đ/USD so với tháng trước; so với cùng tháng năm trước tăng 3,58%; so với tháng 12 năm 2024 tăng 3,54%; bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ tăng 3,94%; so với kỳ gốc năm 2024 tăng 5,1%.

THỐNG KÊ

Lượt truy cập: 1648084