17/04/2026 08:19:36

Tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long tháng 3 và quý I năm 2026

Quý I năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; xung đột địa chính trị tại khu vực Trung Đông gia tăng đã tác động đến thị trường năng lượng toàn cầu, làm giá xăng dầu biến động mạnh, tạo áp lực lên lạm phát và chi phí sản xuất. Bên cạnh đó, tăng trưởng kinh tế toàn cầu có dấu hiệu chậm lại, nhu cầu tiêu dùng và thương mại quốc tế phục hồi chưa vững chắc, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Những yếu tố này đã tác động lan tỏa đến kinh tế trong nước, làm gia tăng chi phí đầu vào, chi phí logistics và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của nhân dân.

Thu ngân sách nhà nước quý I ước đạt 8.003 tỷ đồng, đạt tỷ lệ 35,44% so với dự toán, trong đó: thu nội địa 7.698,5 tỷ đồng, đạt 36,31% dự toán; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 304,5 tỷ đồng, đạt 22,13% dự toán. Chi ngân sách địa phương ước tính trong quý I là 6.806,2 tỷ đồng, đạt 15,36% dự toán, trong đó: chi thường xuyên là 5.659,4 tỷ đồng, đạt 23,0% dự toán (trong đó chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo có chiếm tỷ trọng chi lớn nhất trong quý I/2026 (47,51%); chi đầu tư phát triển là 1.164,7 tỷ đồng, đạt 8,28% so với dự toán.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 tăng 1,24% so với tháng trước, tăng 2,92% so với tháng 12/2026 và tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân trong quý I năm 2026, CPI tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với cùng kỳ năm trước, đáng kể là: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,5%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,35% (trong đó, thực phẩm tăng 5,03%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,11%, riêng chỉ số giá lương thực giảm 4,06%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,93%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,42%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 2,36% (trong đó, dịch vụ y tế tăng 2,37%); may mặc, giày dép và mũ nón tăng 2,17%; giáo dục tăng 2,14% (trong đó, dịch vụ giáo dục tăng 2,24%); nhóm giao thông tăng 2,12%; … Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,58% so với cùng kỳ năm trước.

* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ:  Trong tháng giá vàng thường xuyên biến động theo xu hướng chung của thị trường trong nước và thế giới, đô la Mỹ tăng nhẹ. Chỉ số giá vàng tháng 3/2026 tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 19,21% so với tháng 12/2025; đô la Mỹ tăng 0,61% so với tháng trước nhưng giảm 0,36% so với tháng 12/2025. Bình quân trong quý I năm 2026 chỉ số giá vàng tăng 74,69%, đô la Mỹ tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 13.153,7 tỷ đồng, giảm 4,85% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước ước đạt 3.165,4 tỷ đồng, chiếm 24,06% tổng vốn đầu tư và giảm 30,77% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 8.807,4 tỷ đồng, chiếm 66,96% và tăng 7,05%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.180,9 tỷ đồng, chiếm 8,98% và tăng 15,33%. Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước quý I năm 2026 ước đạt 2.836,7 tỷ đồng, giảm 35,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn do địa phương quản lý đạt 2.157,8 tỷ đồng, bằng 16,53% kế hoạch năm và giảm 21,96% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý I, người dân đã thu hoạch dứt điểm lúa vụ Mùa từ năm 2025 chuyển sang. Đồng thời chăm sóc lúa vụ Đông xuân 2025-2026, đến nay phần lớn diện tích lúa đang trong giai đoạn chín - thu hoạch.

+ Lúa vụ Mùa 2025-2026 đã kết thúc giai đoạn thu hoạch với diện tích là 5.897,6 ha, tăng 0,98% so cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo cấy tập trung ở những vùng canh tác 01 vụ lúa, 01 vụ nuôi tôm nước lợ: xã Hàm Giang, Đại An, Thạnh Hải... Thời tiết thuận lợi nên năng suất thu hoạch đạt 44,1 tạ/ha, tăng 1,94% so với vụ Mùa năm trước. Sản lượng thu hoạch đạt 26.006 tấn, tăng 2,94%.

+ Lúa Đông xuân 2025-2026 đã xuống giống là 105.197 ha, đạt 99,15% kế hoạch, giảm 0,85% so với vụ Đông xuân năm trước. Diện tích lúa giảm nhiều ở: xã Nhơn Phú, Cái Nhum, Tân Long Hội, Tam Ngãi, Tiểu Cần, Tân Hoà… Do chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng cao nên một số vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, nhiều diện tích đất trồng lúa đã chuyển sang trồng màu và cây ăn trái có hiệu quả kinh tế cao hơn. Các giống lúa phổ biến được đưa vào sản xuất trong vụ như: OM5451, OM4900, OM6976, OM18, OM6162, OC10, Đài Thơm 8, ST25… Diện tích xuống giống lúa vụ Đông xuân 2025-2026 trong thực hiện Đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đếnnăm 2030” là 8.160 ha, đạt 99% so với diện tích đăng ký thực hiện của địa phương. Tính đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh đã thu hoạch 48.239 ha lúa Đông xuân 2025-2026 (chiếm 45,9% tổng diện tích xuống giống). Năng suất gieo trồng ước đạt 65,88 tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 1,51%. Giá lúa dao động từ 5.600-6.200 đồng/kg.

Cây lâu năm trên địa bàn toàn tỉnh đang có xu hướng phát triển tăng diện tích và chất lượng sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Ước tính trong quý I năm 2026 đã thu hoạch được: 237,2 nghìn tấn cam, tăng 3,36% so với cùng kỳ năm trước; 71,7 nghìn tấn bưởi, tăng 4,69%; 34,5 nghìn tấn chuối, tăng 3,52%; 29,1 nghìn tấn xoài, tăng 1,38%; 22 nghìn tấn sầu riêng, tăng 11,83%; riêng sản lượng chôm chôm ước đạt 15,1 nghìn tấn, giảm 7,01%; sản lượng nhãn 17 nghìn tấn, giảm 3,96% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính đến thời điểm cuối tháng báo cáo: đàn lợn có khoảng 818,4 nghìn con, tăng 2,50%; đàn bò có 460,3 nghìn con, giảm 1,21%; đàn gia cầm có 23.299 nghìn con, tăng 0,69%, trong đó đàn gà có 18.719 nghìn con, tăng 1,01% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng trong quý I ước đạt 50 nghìn tấn, tăng 1,61%; sản lượng thịt gia cầm đạt 29,5 nghìn tấn, tăng 4,88%; riêng sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng chỉ đạt 15 nghìn tấn, giảm 2,63% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản nuôi trong tháng ước đạt 74.985 tấn, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước. Ước quý I đạt 116.501 tấn, tăng 5,19% so với cùng kỳ, bao gồm: sản lượng tôm nuôi là 45.713 tấn, tăng 9,65%; sản lượng cá là 67.092 tấn, tăng 2,41%; 3.697 tấn thủy sản khác, tăng 4,16% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP - Index of Industrial Production) tháng 3/2026 ước tính tăng 25,29% so với tháng trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 9,53%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,82%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 50,6%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 5,35%. So với cùng tháng năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3/2026 tăng 1,67%, trong đó ngành khai khoáng tăng 1,43%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,53%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt giảm 1,41%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 1,66%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 3/2026 ước đạt 16.827,8 tỷ đồng, giảm 8,25% so với tháng trước; do sau Tết Nguyên đán nhu cầu tiêu dùng ổn định trở lại nên giảm đáng kể so với tháng có Tết. Trong đó, bán lẻ hàng hóa giảm 7,35%; dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 14,49%, du lịch lữ hành giảm 3,47% và dịch vụ khác giảm 5,45%.

Ước tính tổng doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát trong tháng 3/2026 đạt 660,7 tỷ đồng, tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 15,71% so cùng kỳ năm trước.

Chi tiết xem file đính kèm

* Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 03 và quý I năm 2026,  Thống kê tỉnh Vĩnh Long.

THỐNG KÊ

Lượt truy cập: 1647394