18/05/2026 16:32:57

Tình hình Kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long tháng 4 và 04 tháng đầu năm 2026

Tháng 4 năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng khá, trong bối cảnh trùng với nhiều dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch), Ngày Giải phóng miền Nam 30/4, Quốc tế Lao động 1/5 và Tết cổ truyền Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer, đã góp phần làm gia tăng nhu cầu tiêu dùng, đi lại, vui chơi, giải trí và du lịch. Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải diễn ra sôi động; sản xuất công nghiệp có dấu hiệu khởi sắc ở một số ngành chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, tiến độ thực hiện vốn đầu tư công vẫn còn chậm do vướng mắc về thủ tục và nguồn cung vật liệu xây dựng, một số lĩnh vực sản xuất vẫn chịu áp lực từ chi phí đầu vào tăng.

Tình hình kinh tế

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10.008 tỷ đồng, so với dự toán năm 2026 đạt 44,32%. Các khoản thu nội địa đạt khá so với dự toán như: Thu từ doanh nghiệp nhà nước trung ương đạt 63,46%; thu xổ số kiến thiết đạt 51,08%; thu thuế công thương nghiệp ngoài quốc doanh đạt 50,01% dự toán năm 2026. Ước tổng chi ngân sách trong 4 tháng đầu năm 2026 là 9.918 tỷ đồng, đạt 23,38% dự toán năm, trong đó: Chi đầu tư phát triển là 1.684 tỷ đồng, đạt 12,17% dự toán; chi thường xuyên là 8.234 tỷ đồng, đạt 33,46% dự toán năm 2026.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2026 tăng 1,26% so với tháng trước, tăng 4,09% so với tháng 12/2025 và tăng 5,37% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân trong 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với cùng kỳ năm trước, đáng kể là: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,35%; nhóm giao thông tăng 4,05%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,64% (trong đó, thực phẩm tăng 5,13%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,8%, riêng chỉ số giá lương thực giảm 3,4%); thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,31%; may mặc, giày dép và mũ nón tăng 3,27%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,81%; giáo dục tăng 2,15% (trong đó, dịch vụ giáo dục tăng 2,26%); thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,87% (trong đó, dịch vụ y tế tăng 1,78%); … Riêng nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,47% so với cùng kỳ năm trước.

* Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ: Trong tháng giá vàng thường xuyên biến động theo xu hướng chung của thị trường trong nước và thế giới, đô la Mỹ tăng nhẹ. Chỉ số giá vàng tháng 4/2026 giảm 7,38% so với tháng trước nhưng tăng 10,11% so với tháng 12/2025; đô la Mỹ tăng 0,18% so với tháng trước nhưng giảm 0,18% so với tháng 12/2025. Bình quân trong 4 tháng đầu năm 2026 chỉ số giá vàng tăng 67,97%, đô la Mỹ tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước tháng 4 năm 2026 đạt 689 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước, nhưng giảm 30,12% so với tháng cùng kỳ năm trước. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý đạt 2.793 tỷ đồng (đạt 21,4% kế hoạch năm 2026), giảm 25,53% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng, người dân trên địa bàn tỉnh đang tập trung thu hoạch vụ lúa Đông xuân, đồng thời chuẩn bị xuống giống vụ lúa Hè thu:

+ Diện tích lúa Đông xuân đã gieo trồng là 105.197 ha, giảm 0,85% so với vụ Đông xuân năm 2025, diện tích xuống giống giảm chủ yếu ở các xã: Nhơn Phú, Tam Ngãi, Tiểu Cần, Tân Hòa, Trà Cú, Long Hiệp, Tập Sơn, Trà Ôn, Hòa Bình, Trà Côn, Vĩnh Xuân, Mỹ Chánh Hòa, An Ngãi Trung, Tân Xuân. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí phân bón, thuốc bảo vệ thực vật tăng cao trong khi giá lúa hàng hóa giảm nên một số vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Tính đến ngày 20/4/2026, diện tích lúa Đông xuân đã thu hoạch ước 83.231 ha, năng suất thu hoạch ước đạt 65,72 tạ/ha, so với cùng kỳ tăng 1,26%.

+ Diện tích lúa Hè thu năm 2026 đã xuống giống tính đến ngày 20/4/2026 là 19.136 ha, đạt 17,26% so với kế hoạch, giảm 15,01% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng đang diễn ra khá gay gắt nên tiến độ xuống giống chậm. Phần lớn diện tích lúa đang giai đoạn mạ, cây lúa phát triển khá tốt, sâu bệnh phát sinh không đáng kể.

Trong tháng nhiều sản phẩm trái cây như: sầu riêng, mít Thái, mận có giá bán giảm phổ biến từ 5-20% so với tháng trước. Nguyên nhân giảm là do nhu cầu xuất khẩu giảm, tiêu thụ nội địa là chủ yếu; đồng thời đang vào vụ thu hoạch rộ, nguồn cung tăng mạnh nên giá bán giảm. Riêng cam sành có xu hướng tăng nhẹ do nhu cầu tiêu thụ tăng trong điều kiện thời tiết nắng nóng; tuy nhiên mức tăng không đáng kể và giá vẫn duy trì ở mức thấp. Đối với dừa, giá dừa khô nguyên liệu giảm từ 15–20% do nguồn cung tăng trong khi nhu cầu thu mua, chế biến và xuất khẩu chậm lại; trong khi đó, giá dừa uống nước (dừa xiêm) tăng nhẹ nhờ nhu cầu tiêu thụ tăng trong mùa nắng nóng.

Ước tính đến thời điểm cuối tháng báo cáo, đàn bò ước có khoảng 460,8 nghìn con, giảm 0,76% so với cùng kỳ do giá bán ở mức thấp trong khi chi phí thức ăn tăng nên người nuôi có xu hướng thu hẹp quy mô nuôi. Tuy nhiên, dịch bệnh trên đàn bò được kiểm soát rất tốt nên ở một số địa phương có điều kiện thuận lợi vẫn tiếp tục duy trì tổng đàn. Đàn lợn hiện có khoảng 831,16 nghìn con, tăng 0,4% nhờ thị trường tiêu thụ ổn định và giá bán tương đối cao, song vẫn đối mặt với khó khăn về chi phí thức ăn, nguy cơ dịch tả lợn Châu Phi bùng phát. Đàn gia cầm tiếp tục phát triển với khoảng 23,93 triệu con, tăng 2,27% so với cùng kỳ, trong đó đàn gà ước khoảng 18,35 triệu con, tăng 2,63%. Các mô hình nuôi gà công nghiệp, bán công nghiệp tiếp tục mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Tổng sản lượng thủy sản khai thác biển và nuôi trồng trong tháng ước đạt 50.234 tấn, giảm 5,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm ước đạt 236.074 tấn, tăng 1,74% so với cùng kỳ năm trước.

 Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP - Index of Industrial Production) tháng 4/2026 ước tính tăng 9,71% so với tháng trước, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,32%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,88%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 16,58%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 2,6%. So với cùng tháng năm trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 4/2026 tăng 13,28%, trong đó ngành khai khoáng tăng 2,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,35%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 21,76%; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 0,7%.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 4/2026 ước đạt 16.973 tỷ đồng, tăng 4,37% so với tháng trước. Trong đó, bán lẻ hàng hóa tăng 3,77%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,51%, du lịch lữ hành tăng 10,28% và dịch vụ khác tăng 2,09%.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi và bưu chính chuyển phát ước đạt 2.546 tỷ đồng, tăng 9,02% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu vận tải hành khách đạt 886 tỷ đồng, tăng 15,15%; doanh thu vận tải hàng hóa đạt 1.365 tỷ đồng, tăng 12,96%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 105 tỷ đồng, giảm 45,01% so cùng kỳ năm trước giảm chủ yếu do doanh thu của Trạm thu phí Cầu Rạch Miễu 1 giảm mạnh; doanh thu bưu chính chuyển phát đạt 190 tỷ đồng, tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước.

Chi tiết xem tệp đính kèm

* Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 04 và 04 tháng đầu năm 2026,  Thống kê tỉnh Vĩnh Long.

THỐNG KÊ

Lượt truy cập: 1647396